fbpx

Trường hợp công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ khi không công chứng, chứng thực.

Hỏi: Năm 2016 anh trai tôi mua một mảnh đất tại Quận 2 với giá 220.000.000 đồng, có viết giấy tay, tại thời điểm ký hợp đồng thì anh tôi cọc 50.000.000 đồng, khi nhận đất anh tôi trả thêm 150.000.000 đồng, còn 20.000.000 đồng trả khi ra sổ đứng tên anh tôi. Đến năm 2019 chủ đất vẫn không chịu làm thủ tục cấp sổ cho anh tôi. Đến nay họ nói do hợp đồng viết tay, không công chứng nên không có hiệu lực, họ muốn lấy lại đất và trả lại tiền cho anh tôi. Luật sư tư vấn dùm tôi làm sao để chúng tôi có thể sử dụng hợp pháp mảnh đất trên?

Trả lời:

VietPointLaw cám ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho chúng tôi. VietPointLaw xin phúc đáp câu hỏi của bạn như sau:

Căn cứ Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 thì: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên”.

Căn cứ Khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 thì hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực trong trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cá nhân với cá nhân nói trên.

Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh bạn và bên chuyển nhượng phải được công chứng hoặc chứng thực, nếu không, giao dịch dân sự sẽ không có hiệu lực theo quy định trên.

Tuy nhiên, căn cứ Khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.

Theo như thông tin bạn đã cung cấp thì anh bạn đã thanh toán 200.000.000 đồng trên tổng số 220.000.000 đồng giá trị của hợp đồng, như vậy anh bạn đã thanh toán hơn 2/3 giá trị của hợp đồng cũng có nghĩa là anh bạn đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch. Vì vậy, anh bạn có thể yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng mà không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

Khi Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng thì các bên vẫn tiếp tục thực hiện các công việc trong hợp đồng.

Mặt khác, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu trong trường hợp của anh bạn là 02 năm kể từ thời điểm giao dịch dân sự được xác lập căn cứ vào Điểm đ Khoản 1 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015.

Thời điểm anh bạn xác lập giao dịch là năm 2016, tính đến thời điểm hiện tại đã hơn 02 năm, nên đã hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu. Vì vậy, bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh bạn không thể yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh bạn vô hiệu.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật.

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *