fbpx

Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, Bộ Tư Pháp, Bộ Lao Động – Thương Binh Và Xã Hội Đã Ra Thông Tư Liên Tịch 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH

Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, Bộ Tư Pháp, Bộ Lao Động – Thương Binh Và Xã Hội Đã Ra Thông Tư Liên Tịch 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH Quy Định Về Phối Hợp Thực Hiện Một Số Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Về Thủ Tục Tố Tụng Đối Với Người Dưới 18 Tuổi.

Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán khi được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi phải có ít nhất một trong các điều kiện sau:

a- Có kinh nghiệm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi;

b- Đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng giải quyết các vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi;

c- Đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi.

Hội thẩm tham gia Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi phải có người là giáo viên, cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi.

Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi

Việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau:

a- Giấy chứng sinh;

b- Giấy khai sinh;

c- Chứng minh nhân dân;

d- Thẻ căn cước công dân;

đ- Sổ hộ khẩu;

e- Hộ chiếu.

Trường hợp các giấy tờ, tài liệu trên có mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài liệu này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải phối hợp với gia đình, người đại diện, người thân thích, nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc tổ chức, cá nhân khác có liên quan nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động, sinh hoạt trong việc hỏi, lấy lời khai, xác minh làm rõ mâu thuẫn hoặc tìm các giấy tờ, tài liệu khác có giá trị chứng minh về tuổi của người đó.

Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp nhưng chỉ xác định được khoảng thời gian tháng, quý, nửa đầu hoặc nửa cuối của năm hoặc năm sinh thì tùy từng trường hợp cụ thể cần căn cứ khoản 2 Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự để xác định tuổi của họ.

Trường hợp kết quả giám định tuổi chỉ xác định được khoảng độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được để xác định tuổi của họ.

Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/02/2019.

(Nguồn: Cổng thông tin điện tử chính phủ – baochinhphu.vn)

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *